Trong nền kinh tế thị trường, khái niệm kinh doanh được hiểu theo một ý nghĩa rất rộng. Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến mua bán hàng hóa và thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. để tiến hành các hoạt động kinh doanh, cần phải lập nên các doanh nghiệp, những cá nhân, tổ chức hội đủ những điều kiện do pháp luật quy định sẽ được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, để hợp pháp hóa tư cách và hành vi kinh doanh của mình. Như vậy, điều cần thiết là phải có những quy phạm nhằm chỉ ra những điều kiện để thành lập doanh nghiệp , kể cả hai mặt khách quan và chủ quan. Chẳng hạn hiện nay ở nước ta Luật doanh nghiệp đã chỉ ra các ngành nghề cấm kinh doanh, các ngành nghề kinh doanh phải có điều kiện, phải có vốn pháp định và những ngành nghề kinh doanh đòi hỏi phải có chứng chỉ hành nghề. Trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài, các dự án đầu tư được sắp xếp theo các tiêu chí : dự án đặc biệt khuyến khích, dự án khuyến khích, dự án hạn chế và dự án không cấp giấy phép đầu tư.
Về mặt chủ quan, cần phải chỉ rõ những điều kiện hạn chế công dân tham gia thành lập và quản lý doanh nghiệp, ví dụ : người mất năng lực hành vi dân sự, người bị tước quyền …các quy định này một mặt đảm bảo các yêu cầu của nhà nước trong quản lý kinh tế, mắt khác vẫn đảm bảo quyền tự do kinh doanh theo nguyên tắc : Nhà nước không cấm thì được phép. Hoạt động của doanh nghiệp - một khi đã ra đời - ảnh hưởng đến các chủ thể khác trong xã hội. Nhất là đối với công ty cổ phần, việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu có ảnh hưởng rậng rãi đến công chúng. Vì vậy cần phải có một hệ thống các quy phạm pháp luật nhằm xác định địa vị pháp lý của các doanh nghiệp trong tương quan với các mối quan hệ vừa kể. Chẳng hạn, các quy định về vốn, tài sản doanh nghiệp, quyền sử dụng đất của doanh nghiệp … không phải giống nhau hoàn toàn, mà tùy thuộc vào bản chất pháp lý của từng loại doanh nghiệp và các loại tài sản khác nhau. Tương tự, các quy định về xử lý nợ trong giải thể, phá sản doanh nghiệp và mức độ trách nhiệm về tài sản của doanh nghiệp với các đối tác kinh doanh cũng rất cần thiết phải được điều chỉnh bằng pháp luật. Nói doanh nghiệp thực hiện các hành vi kinh doanh nhưng thực tế hành vi kinh doanh đó được thực hiện qua một tập hợp người tuy có cùng ý chí chung nhưng mức độ tham gia, phần vốn góp và năng lực cá nhân thường khi không đồng đều nhau. Do vậy, cần có một môt khung pháp lý để liên kết họ lại theo những phương thức đặc thù nhằm đạt hiệu quả cao trong hoạt động kinh doanh. Đó là vấn đề tổ chức quản lý doanh nghiệp. Chẳng hạn, mô hình tổ chức quản lý doanh nghiệp nhà nước có hội đồng quản trị mới thoạt nhìn có nhiều điểm tương đồng với công ty cổ phần nhưng thực chất rất khác nhau về cơ bản. Sự khác biệt này là do đặc điểm pháp lý của chủ sở hữu doanh nghiệp chi phối. Ngay đối với công ty, mỗi một loại đều phải thiết kế mô hình tổ chức quản lý riêng biệt nhằm đạt hiệu quả tối ưu trong quản lý. Từ những phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa như sau : Luật doanh nghiệp là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Luật doanh nghiệp có một phạm vi điều chỉnh rất rộng, bao gồm : · Các vấn đề về thành lập, tổ chức lại, giải thể, phá sản doanh nghiệp. · Xác định bản chất pháp lý của từng loại doanh nghiệp qua hệ thống các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp. · Các vấn đề về vốn, tài sản doanh nghiệp. · Các mô hình về tổ chức quản lý doanh nghiệp. · Quan hệ quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp. Các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp đã được ban hành trong thời gian qua. Có thể kể đến một số đạo luật cơ bản như sau : · Luật doanh nghiệp nhà nước (20/4/1995). · Luật hợp tác xã (23/6/1996). · Luật đầu tư nước ngoài (23/11/1999). · Luật doanh nghiệp (12/6/1999). · Luật phá sản doanh nghiệp (30/12/1993). Ngoài ra, còn có nhiều văn bản pháp luật khác có liện quan mật thiết đến việc tạo khung pháp lý cho hoạt động doanh nghiệp như : Luật đất đai, Luật dân sự, Luật thương mại … và hệ thống các văn bản dưới luật nhằm tổ chức thực hiện luật. |